Công ty TNHH Art Consulting Việt Nam
Công ty TNHH World Tax Services Việt Nam
Công ty TNHH Kế toán Thanh Xuân
Công ty TNHH Đào tạo, tư vấn và đầu tư AFTC
Trung Tâm Đào Tạo Smart Train
Công ty TNHH Tư vấn VFAM Việt Nam
Công ty TNHH Tư vấn Tài chính  và Kế toán FAC
Công ty TNHH Dịch vụ Kế toán Kiến Vàng
Công ty TNHH Dịch vụ Kế toán Đồng Hưng
Công ty TNHH AP EXPERTISE
Công ty TNHH DV TV Kế toán thuế Đồng Nai
Công ty TNHH Kiểm toán Kế toán và TV Tài chính Việt Nam
CÔNG TY TNHH I-GLOCAL
Công ty TNHH TMF Việt Nam
Công ty TNHH tài chính kế toán thuế Centax
Công ty TNHH Kế toán và TV Thuế Chiến Thuật
Công ty TNHH tư vấn đầu tư và đại lý thuế TAC
Công ty TNHH tư vấn đầu tư Tri Thức
Công ty TNHH DV Kế toán U&I
Công ty TNHH KCS Việt Nam
Công ty TNHH PSC Việt Nam
Công ty TNHH Kế toán Kiểm toán và Tin Học KIẾN HƯNG
Công ty TNHH TV và DV Kế toán Mirai
Công ty TNHH Tư vấn Khai Minh
Công ty TNHH Kiểm toán HSK Việt Nam
Công ty TNHH TMDV và Tư vấn A&M
Công ty TNHH AIC VIỆT NAM
Công ty TNHH DV kế toán và TV Đồng Khởi
Công ty TNHH MAZARS Việt Nam
Công ty TNHH kế toán VINA
Công ty TNHH BDO CONSULTING (Việt Nam)
Công ty TNHH Kế toán AGS
Công ty TNHH kế toán và tư vấn KH
Công ty TNHH kế toán và tư vấn Sao Vàng
Công ty TNHH tư vấn QMC

Thông kê truy cập

  • Tổng truy cập: 5855790
  • Trong tháng: 81842
  • Hôm nay: 1325
  • Đang Online: 22

Góp ý dự thảo Nghị định về hóa đơn

Ngày đăng: 18/11/2017 - Lượt xem: 266
Theo đề nghị của Bộ Tài chính tại công văn số 9921 ngày 27/07/ 2017 và công văn số 11113 ngày 21/08/2017. Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam có ý kiến góp ý như sau:

HỘI KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN VIỆT NAM

Số 157/CV-HKT

V/v góp ý dự thảo Nghị định về hóa đơn

 

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
                   Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
                               -------------------

             Hà Nội, ngày 29  tháng 08 năm 2017              

Kính gửi: Bộ Tài chính

     Theo đề nghị của Bộ Tài chính tại công văn số 9921 ngày 27/07/ 2017 và công văn số 11113 ngày 21/08/2017. Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam có ý kiến góp ý như sau:

1.     Trang 31 của Dự thảo Nghị định có ghi:

Điều 32. Nguyên tắc sử dụng hóa đơn:

“ 1. Tổ chức, cá nhân kinh doanh chỉ được lập và giao cho người mua hàng hóa, dịch vụ các loại hóa đơn theo quy định tại Nghị định này.

2.Người bán phải lập hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ, bao gồm cả các trường hợp hàng hoá, dịch vụ dùng để khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu; hàng hoá, dịch vụ dùng để cho, biếu, tặng, trao đổi, trả thay lương cho người lao động và tiêu dùng nội bộ (trừ hàng hoá luân chuyển nội bộ để tiếp tục quá trình sản xuất); xuất hàng hoá dưới các hình thức cho vay, cho mượn hoặc hoàn trả hàng hoá.

  Thông tư 26/2015/TT-BTC, Khoản 7, Điều 3 đã bỏ đoạn gạch chân nêu trên nhưng đến Nghị định này lại đưa vào là không rõ cho mục đích gì.

2.     Trang 31 của Dự thảo Nghị định có ghi:

Trường hợp người bán được bán hàng thu ngoại tệ theo quy định của pháp luật, tổng số tiền thanh toán được ghi bằng nguyên tệ, phần chữ ghi bằng tiếng Việt.

       Ví dụ: 10.000 USD - Mười nghìn đô la Mỹ.

       Người bán đồng thời ghi trên hoá đơn tỷ giá ngoại tệ với đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch thực tế là tỷ giá mua vào của Ngân hàng thương mại

      Các trường hợp cụ thể khác thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính về hạch toán kế toán.

  Trường hợp này ghi chưa rõ, nếu người bán mở nhiều tài khoản tại nhiều ngân hàng khác nhau thì xử lý thế nào. Theo quy định của kế toán thì khi ghi nhận nợ phải thu sẽ lấy theo tỷ giá mua vào tại NHTM mà người bán dự định yêu cầu người mua chuyển tiền về.

3.     Điều 4 : Loại, hình thức và nội dung hóa đơn :

     Hiện tại, các doanh nghiệp có hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu ra nước ngoài đang sử dụng Invoice thương mại để sử dụng ghi sổ kế toán, kê khai thuế, làm thủ tục hải quan và đã bỏ hóa đơn GTGT, hóa đơn xuất khẩu, hóa đơn bán hàng khi xuất khẩu hàng hóa dịch vụ, tuy nhiên nghị định này lại quy định sử dụng hóa đơn GTGT và hóa đơn bán hàng cho hoạt động xuất khẩu hàng hóa và cung ứng dịch vụ ra nước ngoài, vậy cần thống nhất về việc sử dụng hóa đơn đối với hàng hóa xuất khẩu giữa Bộ tài chính và Tổng cục hải quan để tránh sự chồng chéo giữa các bên và làm tăng thủ tục hành chính không cần thiết cho doanh nghiệp.

4.     Khoản 3, khoản 5 điều 5 :

     Tại khoản 3 điều 5 có ghi : “3. Doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh có mã số thuế đang sử dụng hóa đơn giấy in từ hệ thống máy tính trước ngày 01/01/2018 nếu có đủ điều kiện nêu tại Khoản 3 Điều này thì sử dụng hóa đơn điện tử của doanh nghiệp từ ngày 01/01/2018 trong hoạt động bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ.”

     Tại khoản 3 điều 5 có ghi: “4. Doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh mới thành lập không lựa chọn mua hóa đơn đặt in của cơ quan thuế, không lựa chọn sử dụng HÓA ĐƠN ĐIỆN TỬ có mã của cơ quan thuế nếu đủ điều kiện áp dụng HÓA ĐƠN ĐIỆN TỬ của doanh nghiệp theo hướng dẫn tại Khoản 3 Điều này thì sử dụng HÓA ĐƠN ĐIỆN TỬ của doanh nghiệp trong hoạt động bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ kể từ khi có mã số thuế. “

      Đề nghị ban soạn thảo xem lại vì khảon 3 điều 5 không có quy định điều kiện gì cả, liệu có phải là khoản 2 điều 5 không?

5.     Tại  khoản 3, điều 7 về  các hình thức gửi hóa đơn điện tử có hướng dẫn :

      “Gửi trực tiếp: Người bán hàng hóa, dịch vụ (tổ chức khởi tạo hóa đơn điện tử) thực hiện lập hóa đơn điện tử tại hệ thống phần mềm lập hóa đơn điện tử của người bán, ký điện tử trên hóa đơn và truyền trực tiếp đến hệ thống của người mua theo cách thức truyền nhận hóa đơn điện tửđã thỏa thuận giữa hai bên. Trường hợp người mua hàng hóa, dịch vụ là đơn vị kế toán thì người mua ký điện tử trên hóa đơn điện tử nhận được và truyền hóa đơn điện tử có đủ chữ ký điện tử cả hai bên cho người bán theo cách thức truyền nhận hóa đơn điện tử đã thỏa thuận giữa hai bên.

     - Gửi thông qua tổ chức trung gian cung cấp giải pháp hóa đơn điện tử:

     Người bán hàng hóa, dịch vụ (tổ chức khởi tạo hóa đơn) truy cập vào chương trình hệ thống lập hóa đơn điện tử của tổ chức trung gian cung cấp giải pháp hóa đơn điện tử để khởi tạo, lập hóa đơn điện tử bằng chương trình lập hóa đơn điện tử của tổ chức trung gian cung cấp giải pháp hóa đơn điện tử hoặc người bán hàng hóa, dịch vụ đưa dữ liệu hóa đơn điện tử đã được tạo từ hệ thống nội bộ của người bán vào hệ thống của tổ chức trung gian cung cấp giải pháp hóa đơn điện tử để gửi cho người mua hóa đơn điện tử đã có chữ ký điện tử của người bán thông qua hệ thống của tổ chức trung gian cung cấp giải pháp hóa đơn điện tử. Trường hợp người mua là đơn vị kế toán, khi nhận được hóa đơn điện tử có chữ ký điện tử của người bán, người mua thực hiện ký điện tử trên hóa đơn điện tử nhận được và gửi cho người bán hóa đơn điện tử có đủ chữ ký điện tử của người mua và người bán thông qua hệ thống của tổ chức trung gian cung cấp giải pháp hóa đơn điện tử.”

      Tuy nhiên tại điểm đ, khoản 3, điều 3 có hướng dẫn :

đ) Tổng số tiền thanh toán, chữ ký người mua, chữ ký người bán, dấu người bán (nếu có) và ngày, tháng, năm lập hóa đơn. Hóa đơn điện tử không phải có chữ ký số của người mua.

      Vậy giữa điều 3 và điều 7 có mâu thuẫn trong việc người mua có hay không ký hóa đơn điện tử ?

      Theo chúng tôi, đối với hóa đơn điện tử không cần thiết phải có chữ ký điện tử của người mua, sau khi ký người mua lại gửi lại hóa đơn cho bên bán làm tăng thủ tục hành chính, theo ý kiến của chúng tôi, sau khi bên bán lập và ký hóa đơn, bên bán truyền dữ liệu cho người mua, người mua kiểm tra hóa đơn và xác nhận là được, nếu có sai sót người mua sẽ có phản hồi để người bán điều chỉnh.

6.     Điều 20 :

Doanh nghiệp bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ có trách nhiệm gửi hóa đơn đã được cho người mua. Phương thức gửi/nhận hóa đơn đã được theo thỏa thuận giữa người bán và người mua.

Ban soạn thảo không ghi rõ là hóa đơn đã được gi?

7.     Không nhất quán giữa các điều sau :

Điều 21. Xử lý hóa đơn sau khi lập và

Điều 34. Xử lý đối với hóa đơn đã lập

     Đề nghị ban soạn thảo xem xét lại.

8.     Về xử lý trong trường hợp mất, cháy, hỏng hóa đơn:

     Theo quy định trong nghị định thì doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh sẽ sử dụng hóa đơn điện tử của doanh nghiệp hoăc hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế, chỉ có cơ quan thuế mới sử dụng hóa đơn đặt in và tự in. Hóa đơn điện tử có thể in ra giấy hoặc lưu trữ dưới dạng dữ liệu điện tử, khi cần người mua hoặc người bán có thể in ra để sử dụng vì vậy những quy định trong nghị định dưới đây về việc xử lý trong trường hợp hóa đơn mất, cháy, hỏng có còn phù hợp không ?, đề nghị ban soạn thảo nghiên cứu lại. Nên chăng cần quy định cụ thể về việc bảo mật thông tin của các đơn vị cung cấp dịch vụ, quy định về việc xử lý sự cố trong trường hợp hệ thống bị virus hoặc mã độc xâm nhập làm mất dữ liệu điện tử ….

Điều 32. Nguyên tắc sử dụng hóa đơn

4. Tổ chức, cá nhân kinh doanh trong quá trình sử dụng nếu phát hiện mất hóa đơn đã lập hoặc chưa lập phải báo cáo cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp biết để xử lý kịp thời.

Điều 35. Xử lý hóa đơn trong các trường hợp không tiếp tục sử dụng

1. Tổ chức, hộ, cá nhân thông báo với cơ quan thuế hoá đơn không tiếp tục sử dụng trong các trường hợp sau:

d) Hoá đơn mất, cháy, hỏng theo hướng dẫn tại Điều 42 Nghị định này.

Điều 39. Xử lý trong trường hợp mất, cháy, hỏng hoá đơn

1. Tổ chức, hộ, cá nhân kinh doanh nếu phát hiện mất, cháy, hỏng hóa đơn đã lập hoặc chưa lập phải lập Báo cáo về việc mất, cháy, hỏng (theo Mẫu đính kèm) để gửi cơ quan thuế quản lý trực tiếp chậm nhất không quá năm (05) ngày kể từ ngày xảy ra việc mất, cháy, hỏng hóa đơn. Trường hợp ngày cuối cùng (ngày thứ 05) trùng với ngày nghỉ theo quy định của pháp luật thì ngày cuối cùng của thời hạn được tính là ngày tiếp theo của ngày nghỉ đó.

2. Trường hợp khi bán hàng hóa, dịch vụ người bán đã lập hóa đơn theo đúng quy định nhưng sau đó người bán hoặc người mua làm mất, cháy, hỏng liên 2 hóa đơn bản gốc đã lập thì người bán và người mua lập biên bản ghi nhận sự việc, trong biên bản ghi rõ liên 1 của hóa đơn người bán hàng khai, nộp thuế trong tháng nào, ký và ghi rõ họ tên của người đại diện theo pháp luật (hoặc người được ủy quyền), đóng dấu (nếu có) trên biên bản và người bán sao chụp liên 1 của hóa đơn, ký xác nhận của người đại diện theo pháp luật và đóng dấu trên bản sao hóa đơn để giao cho người mua. Người mua được sử dụng hóa đơn bản sao có ký xác nhận, đóng dấu (nếu có) của người bán kèm theo biên bản về việc mất, cháy, hỏng liên 2 hóa đơn để làm chứng từ kế toán và kê khai thuế. Người bán và người mua phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của việc mất, cháy, hỏng hoá đơn.

     Trường hợp mất, cháy, hỏng hoá đơn liên 2 đã sử dụng có liên quan đến bên thứ ba (ví dụ: bên thứ ba là bên vận chuyển hàng hoặc bên chuyển hoá đơn) thì căn cứ vào việc bên thứ ba do người bán hoặc người mua thuê để xác định trách nhiệm và xử phạt người bán hoặc người mua theo quy định.

9.     Quy định về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân bán hàng hóa, dịch vụ chưa phù hợp :

Tại Điều 44. Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân bán hàng hóa, dịch vụ

“2. Tổ chức, cá nhân bán hàng hóa, dịch vụ có nghĩa vụ:

b) Ký hợp đồng đặt in hóa đơn với các cơ sở in có đủ điều kiện trong trường hợp đặt in hóa đơn;”

“2. Tổ chức, cá nhân bán hàng hóa, dịch vụ có nghĩa vụ:

b) Ký hợp đồng đặt in hóa đơn với các cơ sở in có đủ điều kiện trong trường hợp đặt in hóa đơn;”

     Tuy nhiên tại gạch đầu dòng số 2, điểm a, khoản 2, điều 4 quy định : Hóa đơn giấy đặt in là hóa đơn do cơ quan thuế đặt in theo mẫu để bán cho các tổ chức, cá nhân.

     Như vậy, tổ chức, cá nhân bán hàng hóa, dịch vụ không được phép tự đặt in hóa đơn nên các quyền và nghĩa vụ tại điều 44 liệu có phù hợp không.

Nơi nhận:

 - Như trên;

 - Vụ CST-BTC

 - Tổng cục Thuế

 - Vụ CĐKT – BTC;

 - Chủ tịch, Tổng thư ký VAA VAA;
 - Lưu: VP, QLHN

TM BAN CHẤP HÀNH TW HỘI
              CHỦ TỊCH
 

 

 

 
PGS-TS Đặng Văn Thanh

 

 

Đăng nhập

Tên đăng nhập
Mật khẩu
Nhớ mật khẩu
  • Hiệp Hội Kế toán Quản trị Công chứng Anh quốc (CIMA)
  • Hội Kế toán công chứng Anh Quốc (ACCA)
  • Ngân hàng Việt Nam Thịnh vượng VPBank
  • Công ty TNHH NC9 Việt Nam
  • Công ty Phần Mềm Quản lý Doanh nghiệp (Fast)
  • Fast Accounting Online
  • Banner

Bình chọn

Bạn thấy website này thế nào?
Rất đẹp
Khá đẹp
Trung bình